Thứ ba 21/05/2019

Nông nghiệp

FAO: ĐỐI TÁC TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TỪ NĂM 1978

Nông nghiệp

Đất nước chúng tôi mong được tăng cường hợp tác hơn nữa với FAO trong cuộc chiến chống đói nghèo cũng như trong các chương trình kinh tế và xã hội khác. Hỗ trợ của FAO đã giúp Việt Nam thực hiện các chính sách trước mắt cũng như lâu dài trong ngành nông nghiệp, đẩy mạnh an ninh lương thực và giúp khắc phục những hậu quả của lũ lụt”.

Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương phát biểu nhân chuyến thăm
Việt Nam của Tiến sĩ Jacques Diouf, Tổng Giám đốc FAO,tháng 5 năm 2001

Trong thời gian hoạt động của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) tại Việt Nam, Tổ chức đã tiến hành nhiều hoạt động rộng khắp để hỗ trợ phát triển nông nghiệp trên toàn quốc bao gồm: giúp đỡ Chính phủ tạo điều kiện cho nghiên cứu nhằm hỗ trợ phát triển nông thôn, giới thiệu các giống cây trồng và vật nuôi mới, đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản, hỗ trợ tái trồng rừng, bảo vệ môi trường, hoạt động nhằm mục tiêu an ninh lương thực cũng như giảm nhẹ các tác động của thiên tai và những trường hợp khẩn cấp khác. Nhờ quá trình có mặt lâu dài ở Việt Nam, FAO đã xây dựng được một bề dày kinh nghiệm công tác, là mấu chốt để hỗ trợ hiệu quả trong quá trình phát triển ngành nông nghiệp của đất nước.

Khôi phục sản xuất nông nghiệp

FAO bắt đầu hoạt động tại Việt Nam vào năm 1978 và một năm sau đó văn phòng đại diện FAO đã được thành lập tại Hà Nội. Vào thời gian đó, đất nước đang phải đương đầu với những thử thách to lớn: nhiều năm chiến tranh đã tàn phá cơ sở vật chất, kinh tế và thể chế của đất nước, ngoài ra Việt Nam còn bị cô lập với phần lớn thế giới bên ngoài, đồng thời nhiều nguồn hỗ trợ phát triển truyền thống cũng nằm ngoài khả năng tiếp cận của đất nước.

Chính trong những năm khó khăn đó, FAO đã nhanh chóng trở thành một đối tác quan trọng, đồng thời là tổ chức hỗ trợ kỹ thuật chính trong lĩnh vực nông nghiệp. Thực tế là vào đầu những năm 1980 kinh phí cho chương trình FAO tại Việt Nam xếp hàng thứ ba trên thế giới, chỉ sau ấn Độ và Trung Quốc.

Một trong những mục tiêu ban đầu của mối quan hệ cộng tác là nhằm khôi phục lại sự phát triển trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Tái thiết thể chế là một ưu tiên hàng đầu; phần lớn hỗ trợ ban đầu của FAO đều dành cho công tác phát triển thể chế và xây dựng năng lực. FAO đã hướng dẫn thành lập một số cơ quan mới, bao gồm Viện Khoa học Nông nghiệp, Viện Nông hoá Thổ nhưỡng và Cục Bảo vệ thực vật, cũng như giúp củng cố các tổ chức sẵn có.

Công tác nghiên cứu và phát triển nông nghiệp cũng được FAO hết sức chú ý ưu tiên, coi đây là một biện pháp để tăng cường trồng trọt các loại cây ví dụ như bông, dừa, cà phê, ngô và cao su. Trong thời gian những năm 1970 và 1980 FAO cũng đã khuyến khích phát triển nghề làm vườn và trồng dâu nuôi tằm. FAO đã hỗ trợ cho các đối tác trong nước đưa vào chăn nuôi các giống gia cầm mới có giá trị thương phẩm và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu thú y. Nhờ có hỗ trợ của FAO thông qua các dự án, các kỹ năng khoa học kỹ thuật đã được hoàn thiện, đồng thời các chương trình tổng hợp và thực tiễn liên quan đến bảo vệ thực vật cũng như cung cấp giống đã được triển khai.

Nhờ những dự án hỗ trợ kỹ thuật như vậy, Việt Nam đã có thể tiếp cận được với các công nghệ và trang thiết bị tiên tiến. Điều quan trọng hơn nữa là dự trữ quốc gia về nguồn nhân lực, tri thức khoa học và trình độ chuyên môn kỹ thuật của đất nước được tăng cường một cách đáng kể. FAO đã giúp Việt Nam xây dựng được nhiều cơ sở nền tảng cho những tiến bộ sau này trong một số lĩnh vực bao gồm trồng lúa, hạt điều và cao su, trồng dâu nuôi tằm, phát triển giống, nuôi tôm và chăn nuôi gia súc gia cầm.

Đương đầu với những thách thức trong thiên niên kỷ mới

Quá trình đổi mới bắt đầu ở Việt Nam vào năm 1986 đã tác động sâu sắc đến các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản; hầu như mọi phương diện của nền kinh tế nông thôn đều chịu ảnh hưởng của quá trình này. Để đối phó với những thay đổi trên diện rộng do quá trình đổi mới đem lại, Chính phủ Việt Nam đã đề nghị FAO hỗ trợ nghiên cứu tổng quan các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Những nghiên cứu tổng quan này đã giúp xác định được những vướng mắc và cơ hội do thời kỳ chuyển đổi đặt ra, đồng thời giúp vạch ra con đường tiến hành cải cách chính sách và luật pháp. Dưới đây sẽ trình bày chi tiết hơn về quá trình đổi mới.

Đổi mới kinh tế ở Việt Nam

Đổi mới kinh tế ở Việt Nam

Vào năm 1986 Chính phủ Việt Nam đã bắt tay vào quá trình đổi mới, khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và hệ thống thị trường. Đến năm 1988, cùng với việc ban hành Nghị quyết 10, phạm vi của quá trình đổi mới đã được mở rộng để bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp. Đổi mới đã đem lại những kết quả đầy ấn tượng trong nền nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là việc áp dụng các cơ chế thị trường tự do đã tác động đến bốn khía cạnh trong nền nông nghiệp: sở hữu đất đai, sản xuất lúa gạo, đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp trong nước và quốc tế.

Luật Đất đai năm 1993 đã cơ bản thay đổi thực tiễn sử dụng đất ở Việt Nam. Trong thời gian trước đổi mới, đất được canh tác tập thể trên quy mô lớn, nay luật này trao lại cho nông dân quyền thừa kế, cầm cố, chuyển nhượng, trao đổi và cho thuê đất. Tính đến năm 1999 đã có khoảng 10 triệu hộ gia đình, phần lớn sống ở các vùng thấp, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các quyền sở hữu mới này đã làm tăng quyết tâm cải thiện năng suất của các hộ gia đình nông nghiệp; các nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng đến một phần ba tăng trưởng kinh tế gần đây ở Việt Nam là nhờ có các quyền sử dụng đất mới của nông dân.