Nhân Ngày Lương Thực thế giới 2008 và kỷ niệm 30 năm FAO có mặt tại Việt Nam.
An ninh Lương thực Thế giới: Thách thức từ Biến đổi Khí hậu và Năng Lượng Sinh học.
Ông Andrew Speedy, Đại diện FAO tại Việt Nam
Thưa ngài Bộ trưởng Cao Đức Phát, các vị khách quý, các bạn đồng nghiệp cùng toàn thể các bạn.
Chủ đề của Ngày Lương thực Thế giới năm nay, cũng trùng với dịp kỷ niệm 30 năm hợp tác giữa FAO và Chính phủ Việt Nam, đề cập đến ba trong những vấn đề quan trọng bậc nhất trong thời đại của chúng ta. Điều này càng trở nên thích hợp hơn tại thời điểm hiện nay khi mà chúng ta phải đối mặt với “Ba vấn đề lớn” là Khủng hoảng Kinh tế, Khủng hoảng Lương thực và Khủng hoảng Nhiên liệu.
FAO bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 1978 và văn phòng đại diện được mở tại Hà Nội một năm sau đó. Tại thời điểm đó những thách thức với Việt Nam là vô cùng lớn. Những năm chiến tranh đã tàn phá cơ sở vật chất, kinh tế và thể chế của đất nước. Bị cô lập với phần lớn thế giới bên ngoài, rất nhiều kênh hỗ trợ phát triển truyền thống lúc đó nằm ngoài tầm với của Việt Nam.
Trong những năm tháng khó khăn đó, FAO đã nhanh chóng trở thành một đối tác quan trọng và là tổ chức đóng góp chủ yếu về hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp. Thực tế là trong những năm đầu thập niên 80, chương trình của FAO ở Việt Nam có qui mô lớn thứ ba trên thế giới, chỉ sau Ấn Độ và Trung Quốc.
FAO đã hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong suốt những năm 80 và 90 trong việc tăng sản lượng gạo, ngô, cà phê, chè, cao su, bông, bò thịt, bò sữa, lợn, thỏ, gà và vịt, trong việc trồng rừng và trong việc phát triển ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
Sau này, trọng tâm các hoạt động của FAO thay đổi và tập trung vào việc cung cấp tư vấn về chính sách. Song song với việc đó, FAO cũng đóng góp cho việc xây dựng lập pháp nhằm tăng cường khả năng của ngành nông nghiệp đáp ứng được những thách thức và cơ hội từ môi trường kinh tế thị trường mới.
Ngoài vai trò trong việc xây dựng và phân tích chính sách ở cấp quốc gia, FAO cũng tiếp tục tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện các dự án cho đối tượng nghèo ở nông thôn. Mặc dù quy mô nhỏ và nguồn tài chính hạn chế, rất nhiều trong số các dự án này đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Một số dự án đã thúc đẩy các giải pháp về sinh kế mới và cải thiện các chiến lược tạo thu nhập, trong khi các dự án khác đã và đang góp phần cải thiện an ninh lương thực và dinh dưỡng cho các hộ gia đình.
Một phần rất quan trọng trong các hoạt động của FAO chính là chương trình Quản lý Tổng hợp Sâu bệnh (IPM) (1992 – 2007), trong đó các hoạt động đào tạo tập huấn đã được thực hiện ở tất cả 64 tỉnh thành, và đã xây dựng được mô hình “Trường học tại đồng cho nông dân” trong lĩnh vực trồng lúa tại hơn 90% số xã trồng lúa trên cả nước. Những thành công to lớn mà IPM thu được trong lĩnh vực trồng lúa đã giúp chương trình này được áp dụng sang các loại cây trồng khác là rau, đậu tương và bông. Và phương pháp tăng cường sự tham gia của người dân trong mô hình “Trường học tại đồng cho nông dân” hiện đang được sử dụng cho rất nhiều hoạt động khuyến nông khác nhau, vượt xa trọng tâm ban đầu là bảo vệ thực vật.
Chương trình cũng đề cao vai trò quan trọng của phụ nữ trong lĩnh vực trồng trọt và tích cực tìm cách đảm bảo sự tham gia của phụ nữ với những kết quả khả quan. Ngay từ đầu, phụ nữ đã được tham gia đầy đủ ở tất cả các cấp - nông dân, tập huấn viên và người quản lý.
Chương trình lâm nghiệp của FAO một mặt hướng tới việc sử dụng tối ưu tiềm năng của cây, rừng và các nguồn lợi liên quan nhằm cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường của người dân, một mặt bảo đảm nguồn tài nguyên rừng được bảo tồn nhằm đáp ứng nhu cầu của những thế hệ tương lai. Việc quản lý rừng bền vững và cơ sở chính sách lâm nghiệp nhằm hỗ trợ việc thực hiện “Chương trình năm triệu hecta rừng” của Chính phủ (1998 – 2010).
Chương trình quản lý và bảo tồn đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng nhằm thúc đẩy cải thiện bảo tồn nguồn lợi và quản lý hiệu quả các hệ thống sản xuất thông qua các thiết chế bổ sung trong cả hai lĩnh vực: đánh bắt thuỷ sản (trên biển và nội đồng); và nuôi trồng thuỷ sản. Chương trình cũng đóng góp cho việc thực hiện các nội dung liên quan trong Luật Hướng dẫn Nghề cá có Trách nhiệm (CCRF), cùng với các công cụ quốc tế khác
Chương trình về các sản phẩm đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản giải quyết các vấn đề từ thu hoạch, vận chuyển, sử dụng và thương mại các sản phẩm từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Chương trình này sẽ hỗ trợ tăng cường sự đóng góp của nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ đối với việc cung cấp thuỷ sản cho thị trường trong nước và thúc đẩy khả năng tiếp cận tới các thị trường khu vực và thế giới. Một Dự án Hợp tác Kỹ thuật đang được thực hiện nhằm giải quyết những nhu cầu của ngành thuỷ sản trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và thương mại của WTO.
Gần đây nhất, FAO đã có những cam kết mạnh mẽ đối với chương trình kiểm soát và phòng chống cúm gia cầm. Kể từ những trường hợp phát hiện bệnh đầu tiên vào cuối năm 2003, hiện đã có 106 trường hợp phát bệnh ở người, làm 52 người tử vong, cũng như đã có tới 52 triệu gia cầm chết hoặc bị tiêu huỷ, gây thiệt hại kinh tế vô cùng to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam đã rất thành công trong việc kiểm soát virus cúm gia cầm, một phần nhờ những nỗ lực của đối tác về cúm gia cầm và cúm ở người giữa Chính phủ Việt Nam, FAO, UNDP, UNICEF và WHO, cùng với sự hỗ trợ to lớn từ rất nhiều nhà tài trợ bao gồm Australia, Canada, Phần Lan, Luxembourg, Hà Lan, New Zealand, Nauy, Thụy Điển, Thụy Sỹ, cũng như những đóng góp lớn từ USAID và Nhật Bản, và một dự án đặc biệt của Ireland. Mặc dù vẫn còn là một mối lo ngại, song số lượng virus trong môi trường giảm nhờ một chiến lược giám sát, kiểm soát dịch và tiêm phòng mạnh mẽ đã đảm bảo rằng dịch bệnh này đang được kiểm soát và chúng ta đã tránh được những lo ngại xấu nhất về một đại dịch.
Một điểm mạnh khác của FAO chính là tính trung lập, và điều này đã được Chính phủ và các nhà tài trợ tương tự đánh giá cao. FAO tiếp tục tham gia vào việc lập kế hoạch, xây dựng và thực hiện các dự án phát triển nông thôn thông qua trung tâm đầu tư nông nghiệp (TCI) của chúng tôi.
Vượt ra khỏi biên giới quốc gia, Việt Nam đã đóng một vai trò tiên phong quan trọng trong lịch sử Hợp tác Nam-Nam (SSC) và đã đóng góp rất lớn cho thành công của Hợp tác Nam-Nam bằng việc đóng góp các chuyên gia, kỹ thuật viên và chia sẻ kỹ năng. Việt Nam đã ký thoả thuận SSC đầu tiên vào tháng 11 năm 1996 với Senegal và cử một đội ngũ lớn các chuyên gia và kỹ thuật viên sang nước này. Tiếp theo đó, Chính phủ Việt Nam đã ký nhiều thoả thuận khác bao gồm: với Bê-nanh tháng 12 năm 1998, với Madagascar tháng 11 năm 1999, với CHDCND Lào tháng 11 năm 2001, với Cộng hoà Công-gô tháng 11 năm 2001, và với Mali tháng 11 năm 2005.
Các chuyên gia của Việt Nam đã giới thiệu những quy trình nông nghiệp cải tiến, trồng lúa, quản lý sâu bệnh, sản xuất rau quả, thuỷ lợi nhỏ và nuôi trồng thuỷ sản, góp phần đáng kể tăng cường sản lượng nông nghiệp và thu nhập của nông dân. Các quốc gia tiếp nhận hỗ trợ đã bày tỏ sự đánh giá cao đối với những đóng góp của Việt Nam.
Điều này khiến chúng tôi phải xem xét việc thay đổi vai trò của FAO tại Việt Nam. Thời gian đầu vai trò của FAO có thể được mô tả dưới dạng ‘viện trợ’, rồi dần dần được chuyển thành ‘hỗ trợ’ khi Việt Nam đã trở nên tự chủ hơn về lương thực, và vai trò này ngày càng có xu hướng trở thành một mối quan hệ ‘đối tác’, trong đó chúng tôi hợp tác với các đối tác Việt Nam cùng hướng tới phát triển bền vững. Các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật của chúng tôi đã chuyển từ việc cung cấp dựa trên nguồn cung sang việc cung cấp ngày càng nhiều theo nhu cầu nhằm bổ sung cho năng lực kỹ thuật ngày càng được cải thiện của Việt Nam.
Việt Nam hiện có thể được mô tả như một quốc gia đi đầu trên thế giới về công nghệ sản xuất lúa gạo và nuôi trồng thuỷ sản, về cà phê, hạt tiêu, cao su, chế biến thuỷ sản và sản xuất đồ gỗ. Như chúng ta cũng đã nói, Việt Nam còn có thể cung cấp các chuyên gia sang Châu Phi hỗ trợ về sản xuất lương thực tại các quốc gia kém phát triển hơn. Tuy vậy, Việt Nam còn cần hợp tác trong các đối tác quốc tế về kiểm soát dịch bệnh thú y và thực vật, về công nghệ sinh học, chất lượng và tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, sử dụng thuốc trừ sâu, cũng như về chiến lược và chính sách phát triển kinh tế và thương mại.
Trên thực tế, tất cả chúng ta cần phải phối hợp với nhau để giải quyết những khủng hoảng toàn cầu về kinh tế, lương thực và nhiên liệu, và quan trọng hơn cả là đối phó với thách thức của biến đối khí hậu, hiện là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam, với tư cách là một trong năm quốc gia ven biển có khả năng bị tác động nhiều nhất.
Một đặc điểm nữa liên quan tới việc thay đổi vai trò là việc gắn kết các cơ quan của Liên Hợp Quốc trong cơ chế ‘Một UN’, trong đó Việt Nam cũng là Quốc gia Thí điểm đi đầu. Gần đây trong việc chuẩn bị cho hội nghị quan trọng của các Bộ trưởng Nông nghiệp ASEAN và các Quan chức Cấp cao vào tuần tới, các cơ quan Liên Hợp Quốc cũng đã phối hợp chuẩn bị một ‘báo cáo chuyên đề’ về “Giá Lương thực, Khả năng Tổn thương và An ninh Lương thực ở Việt Nam’. Đây là kết quả hợp tác giữa FAO với UNDP và UNICEF. Tôi không muốn tiết lộ nội dung của báo cáo này trước khi nó được trình bày vào tuần tới, nhưng tôi muốn nhấn mạnh một số kết luận chính trong buổi lễ ngày hôm nay.
Việt Nam hiện không phải đối mặt với việc thiếu hụt lương thực. Sản lượng nông nghiệp hiện rất tốt. Tuy nhiên việc giá lương thực tăng đã dẫn tới tăng khả năng tổn thương trong những nhóm dân và một số vùng cụ thể (đặc biệt là Tây Bắc và Tây Nguyên), tiêu biểu là những vùng có tỷ lệ nghèo, thiếu dinh dưỡng cao và những vùng chịu nhiều tác động nhất của thiên tai và mất mùa.
Sức mua của các hộ gia đình giảm, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo, chỉ ra một nguy cơ lớn là các hộ gia đình mới thoát khỏi cảnh nghèo đói có khả năng rơi trở lại nghèo đói. Phụ nữ và trẻ em nghèo là những người có nguy cơ cao đặc biệt, do giá lương thực tăng cao có thể làm trầm trọng hơn tình trạng dinh dưỡng vốn đã bấp bênh của họ. Ngoài ra, áp lực đối với các hộ gia đình nghèo trong việc phải tăng thu nhập có thể tác động đến việc nuôi con bằng sữa mẹ, chăm sóc trẻ em, lao động trẻ em, khả năng đến trường của trẻ và chi tiêu chăm sóc sức khoẻ hàng ngày của các gia đình này.
Chi phí sản xuất cũng tăng, cùng với việc tăng giá các hàng hoá như nhiên liệu, đất đai và nhà ở, cũng như các dịch vụ xã hội thiết yếu khác như giáo dục và y tế.
Khó khăn hơn nữa, Việt Nam phải hứng chịu 6-7 thiên tai lớn (bão và lũ lụt) hàng năm, tàn phá hoa màu và nguồn lương thực, cũng như gây thiệt hại về giống, phân bón và các nguồn lợi khác tại những vùng dễ bị tổn thương. (trước đây FAO đã hỗ trợ việc tái khôi phục sản xuất thông qua việc cung cấp giống và công cụ, và năm nay đã nhận được nguồn hỗ trợ rất lớn từ Chính phủ Italia để cung cấp giống cũng như hỗ trợ giảm nhẹ và phòng chống rủi ro thiên tai).
Hướng tiếp cận An ninh Lương thực ở Việt Nam trên thực tế là vấn đề An ninh Lương thực cho Tất cả mọi người. Chúng ta cần một hướng tiếp cận tổng hợp, như đã được mô tả trong việc xây dựng chiến lược quốc gia có tên là ‘Tam Nông’, được hiểu nôm na là ‘Phát triển Nông nghiệp, Nông dân và Nông thôn’.
Chắc chắn một hướng tiếp cận phát triển nông thôn tổng hợp đòi hỏi chúng tôi phải hợp tác chặt chẽ với các đồng nghiệp tại UNDP, UNESCO, UNICEF, UNIDO, WHO, IFAD, ADB, WB, và tất nhiên là hợp tác trong quan hệ đối tác với Chính phủ Việt Nam và đặc biệt là Bộ Nông nghiệp và PTNT. Tất cả những điều này được minh chứng bởi thực tế là 70% dân số Việt Nam sống ở nông thôn, họ cần được hưởng sinh kế bền vững và tiếp cận với những nhu cầu thiết yếu như giáo dục và dịch vụ y tế, và chúng ta chắc chắn không thể có ý định đô thị hoá toàn bộ dân số 86 triệu người. Chúng ta rất cần một hướng tiếp cận mới trong chiến lược phát triển nông thôn, trong đó tôi hoàn toàn tin tưởng và mong đợi Việt Nam sẽ lại là quốc gia đi tiên phong.
Tương tự, vấn đề biến đổi khí hậu, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, giúp nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản thích ứng được với những thách thức cần có một hướng tiếp cận tổng hợp.
Vấn đề biến đổi khí hậu sẽ là một thách thức lớn đối với Việt Nam trong những thập kỷ tới. Những tác động của nó có thể đe doạ tốc độ phát triển kinh tế ấn tượng mà Việt Nam đã đạt được. Khu vực ven biển của Việt Nam là một trong những vùng có khả năng tổn thương lớn nhất do tác động của biến đổi khí hậu. Mặc dù chỉ chiếm 12% về diện tích lãnh thổ, khu vực này lại là nơi sinh sống của 23% dân số Việt Nam và có khả năng bị ngập dưới mực nước biển khi mực nước biển dâng cao 1m trong tương lai do tác động của biến đổi khí hậu. Việt Nam hiện đang rất cần kinh nghiệm và hỗ trợ tài chính từ cộng đồng quốc tế.
Với năng lực chuyên môn cao trong lĩnh vực lâm nghiệp, FAO hiện đang tích cực hỗ trợ cho chương trình REDD: Giảm thiểu Phát thải từ Phá rừng và Suy thoái Rừng. Việt Nam nằm trong số chín quốc gia đã thể hiện sự quan tâm chính thức đối với việc nhận hỗ trợ từ Chương trình UN-REDD, một sáng kiến chung của FAO, UNDP và UNEP với sự hỗ trợ của Chính phủ Nauy.
Vấn đề quan trọng đối với FAO là nâng cao giám sát, đánh giá và báo cáo về rừng, vốn rất cần thiết để đưa ra những quyết định thông minh, biến rừng và ngành lâm nghiệp thành những nguồn đóng góp quan trọng cho sinh kế, phát triển bền vững và giảm nghèo.
Cuối cùng, liên quan đến những tranh luận về phát thải và biển đổi khí hậu chính là vấn đề năng lượng sinh học. Việc sản xuất nhiên liệu từ các nguồn lợi sinh học tái sinh sẽ góp phần giảm các vấn đề về môi trường và năng lượng bền vững. Tuy nhiên rõ ràng việc này không thể đạt được nếu như việc canh tác lương thực bị chuyển đổi hay khi chi phí đầu vào nông nghiệp lại lớn hơn giá trị năng lượng đầu ra. Việc sản xuất ethanol từ ngô và các loại ngũ cốc khác hiện là một phần nguyên nhân dẫn tới việc tăng nhu cầu đối với các loại cây lương thực này và hậu quả là việc giá lương thực tăng. Trong khi vấn đề năng lượng sinh học, ethanol và Jatropha đang là các chủ đề nóng hổi được tranh luận hiện nay, Việt Nam không nên vội tham gia khi mà chúng ta vẫn đang phải đối mặt với những vấn đề về an ninh lương thực và biển đổi khí hậu nói ở trên. Trong trường hợp một quốc gia như Việt Nam thì không nên chuyển đổi nguồn lợi từ đất nông nghiệp vốn đã khan hiếm của mình để đổi lấy sản xuất năng lượng.
Tuy nhiên vẫn có những phạm vi giới hạn cho việc sử dụng các sản phẩm phụ từ cây trồng và vật nuôi để sản xuất năng lượng, cũng như sản xuất năng lượng mặt trời, gió và sóng. Thực tế hơn có thể kể đến thuỷ điện và điện hạt nhân, vốn là những nguồn năng lượng có tiềm năng rất lớn thay thế dầu mỏ và các nhiên liệu hoá thạch khác. Và chắc chắn cũng có khả năng giảm sử dụng năng lượng thông qua việc tăng hiệu suất sử dụng trong tất cả các khía cạnh hoạt động của con người, bao gồm cả nông nghiệp.
An ninh lương thực cho tất cả mọi người là mục tiêu quan trọng nhất cả hiện nay và trong tương lai dài hạn. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt được điều này và chứng minh một cách làm tốt với tư cách là một quốc gia đang phát triển thành công.
Tôi đã được vinh dự làm việc với các bạn Việt Nam trong 18 năm qua; được làm việc với các sinh viên Việt Nam từ những ngày đầu; được sống ở đây trong 2 năm qua và làm việc cho FAO cùng với những đồng nghiệp và cán bộ tuyệt vời của chúng tôi trong tổ chức FAO và toàn bộ các cơ quan của UN; được làm việc với những nhà khoa học Việt Nam đầy nhiệt tình và say mê từ các viện nghiên cứu và trường đại học; được làm việc trực tiếp với Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Nông nghiệp và PTNT; và hơn hết là được làm việc với ngài Bộ trưởng đây và các Thứ trưởng của Bộ trong mối quan hệ đối tác lâu dài và hiệu quả giữa chúng ta, vì sự phát triển và vì tương lai của đất nước Việt Nam.
Tôi xin chúc tất cả quý vị sức khoẻ và thành công nhân Ngày Lương thực Thế giới và kỷ niệm 30 năm quan hệ đối tác của chúng ta.